Thơ Huỳnh Văn Khiêm

Mục lục ePoetry

 

ĐẦU HÈ ( 1 )

 

Sông trong trăng rạng mé rừng thông,

Tiếng sấm vang lên động trống trời.

Con cháu rủ nhau vùng canh tác,

Quát lác chỉ khiến nhà nông lo !

Dầm cầu màu cỏ dưới nắng tà,

Tiếng thưa trời lặn bóng về tây.

Nhờ có đất bưng vùng đắc lực,

Láng giềng kêu giúp tròn việc canh !

 

ĐẦU HÈ ( 2 )

 

Dòng sông nước chảy uốn quanh nhà,

Thềm ngọc ngói vàng sương trắng phau.

Móc dày đài sen phấn rơi rụng,

Gió sớm một đêm nở nụ còi.

Nhìn thấy chớm nở bèn hái nhặt,

Bỗng dưng tối đến lại xàu đi.

Đêm khuya ngại e hoa ngủ thiếp,

Thấp vội ánh nến rọi hồng trang !

 

THÚ QUÊ ( 1 )

 

Ao sâu màu liễu nửa xanh xanh,

Chập choạng khói bay vây lũy thành.

Từng đến Đào nguyên du ngoạn cảnh,

Lại theo ngư phủ xạc ghe tiên.

Chỉ có thanh tuyền gặp đá trắng,

Thấy người lẻo mép kể sơn lâm…

Trút cạn nguồn thâm không cặn bã,

Thú vui rừng núi thêm mặn mà.

 

THÚ QUÊ ( 2 )

 

Hồng hạnh đầu cành ý xuân nồng,

Hải đường nắng ấm chưa nở hoa.

Lầu tây suốt đêm diều gió gấp,

Bóng râm thay dần trời chuyển mưa.

Binh rượu thơ địch khi gặp mặt,

Già này hãy còn chống giữ yên.

Đào giếng cày ruộng tuy hèn mọn,

Đến nay di tích hãy còn nguyên !

 

TÌNH QUÊ ( 1 )

 

Đường đời tuổi xế bóng tà dương,

Dãi gió dầm sương thường tình thôi.

Ngày xưa váng rượu choáng hơi men,

Đọt trà không xen lẫn bụi pha.

Chén chung sọc tự khoe chân nhất,

Vùa thơm cần gì bát Đa – La ?

Vườn sau đầu hè không đề mục,

Cây con gió mát cũng nên thơ !

 

TÌNH QUÊ ( 2 )

 

Hương trầm xông lên buồng đá trắng,

Khe suối róc rách vòng u cư…

Vạn cội tùng thông trên đỉnh đồi,

Muôn hộ chày khua cùng tiếng thu.

Ốc hương chén cạn dốc hương trà,

Ngọc tím ao sâu trữ mực than.

Phiến đá rừng thông ngồi giây lát,

Hãy nghe thâm thúy tiếng thơ vang.

 

LANG BẠT KÌ HỒ ( 1 )

 

Cột buồm nghiên nghiên theo sóng lướt,

Tiếng chuông văng vẳng khuất trong đêm.

Phù tang đã chìm trong sương mù,

Nằm khểnh trên sông năm tháng trôi.

Kinh khẩu nước sông về thẳng tắp,

Hải môn gió dậy sóng triều dâng.

Nghìn dặm bến nước một thuyền con,

Ba năm lại đã hai lần qua !

 

LANG BẠT KÌ HỒ ( 2 )

 

Bình sinh mang nặng thú yên hà,

Năm tháng về già chạnh lẻ loi.

Đêm khuya mưa gió trên khoang thuyền,

Nghe tiếng lâm râm chẳng ngủ yên.

Sông nước phần nhiều dân vạn chài,

Ngõ liễu đầm sen một dãy thưa.

Nhất là bóng xế sau gió lặng,

Giữa sông cây sú bán cá thu.

 

LÃNG TỬ

 

Hơi tuyết sương pha gió thoảng ngoài,

Năm năm trên ngựa như cánh hồng.

Dấu chân lang bạt không câu thúc,

Lãng tử nào ca khúc kịp thời.

Cử sáng thường dẫn sâu vòi bọ,

Chia cơm xẻ áo giường bướm mơ.

Thương ta lận đận không ngày về,

Khiến em sa đà nửa kiếp thân !

 

 

NỢ NƯỚC

 

Chưa tròn báo quốc thẹn gươm sách,

Nghĩ đến câu về tủi bạn thân.

Bình sinh chưa nên chí mỗ - rồng,

Nghìn dặm ghi nhớ hãn – mã công.

Khúc hát Trinh – Nguyên chớ cung phụng,

Năm xưa triều sĩ chẳng còn ai.

Khi tại Quảng – Bình ruột như đá,

Phương chi lời đẹp phú mai hoa ?

 

NỢ ĐỜI

 

Núi sông lất phất làn tuyết rơi,

Tự ngẫm sinh kế việc triền miên.

Trong sân ba nghìn khách giày chuỗi,

Thường nghe mang xách tiếng leng keng.

Cỏ lau bông lau thơ nghìn bài,

Già quyện sinh bình dứt nợ đời.

Ánh xuân theo rượu say người nồng,

Lòng tựa tơ rối manh mối nhiều…

 

  

HUỲNH VĂN KHIÊM

 

.
Huynh Văn Khiêm là nhà thơ sống tại Việt Nam

Liên lạc: kiethuynh3874@yahoo.co.uk